Chia sẻ những trải nghiệm tâm linh trên con đường tỉnh thức cùng Osho
  • Tuyên ngôn của Osho 1

    'Từ lời tôi bạn có thể bùng cháy, nhưng bạn sẽ không thể nào tìm ra bất kì lí thuyết, học thuyết nào. Bạn có thể tìm ra cách sống, nhưng không tìm ra được giáo lí để thuyết giáo. Bạn có thể tìm ra tính cách nổi dậy hay tiêm nhiễm nhưng bạn sẽ không tìm thấy chủ đề cách mạng nào được tổ chức...' Từ cá tính tới cá nhân - Osho

  • Tuyên ngôn của Osho 2

    'Lời tôi không chỉ là ngọn lửa. Tôi đang đặt thuốc nổ đây đó, chúng sẽ nổ tung trong nhiều thế kỉ. Tôi đang đặt nhiều hơn là sự cần thiết - tôi chưa bao giờ tính hết cơ hội. Gần như từng câu đều dự định để tạo ra rắc rối cho bất kì ai muốn tổ chức tôn giáo quanh tôi.' Từ cá tính tới cá nhân - Osho

  • Trích dẫn Osho Mỗi ngày

    'Phật đã bị hiểu lầm rất nhiều, không chỉ bởi kẻ thù của ông ấy mà còn bởi bạn bè của ông ấy nữa - thực ra bị hiểu lầm bởi bạn bè còn nhiều hơn là bởi kẻ thù. Ông ấy đã bị hiểu lầm hơn bất kì ai khác trên thế giới này. Và lí do là ở chỗ ông ấy là một trong những thầy sâu sắc nhất.' - Osho

Showing posts with label Tỉnh Thức Cùng Osho. Show all posts
Showing posts with label Tỉnh Thức Cùng Osho. Show all posts

Tuesday, May 8, 2018

Author THIENOSHO posted on 9:42 AM in
Osho - Hạt mầm tỉnh thức – Trích dẫn


…Thời gian là chất liệu tạo ra ham muốn. Bạn muốn có tương lai. Đó là lý do tại sao một người sống trong hàng triệu ham muốn thì luôn sợ chết. Vì sao họ lại sợ chết? Bởi vì cái chết sẽ cắt đứt thời gian ngay lập tức. Cái chết chặn đứng ham muốn, đó là điều kinh khủng đối với bạn. Khi bạn không ham muốn, ngay tức khắc bạn sẽ thoát khỏi sự ám ảnh của thời gian, của cái chết. Lúc đó tương lai dừng lại, qúa khứ dừng lại, chỉ có giây phút hiện tại. Một khi ham muốn dừng lại thì bạn sẽ sống như một chiếc đồng hồ đang chạy mà kim của nó bị  tháo bỏ. Trong cơ thể còn sống, chiếc đồng hồ sinh học vẫn còn chạy. Nó vẫn cảm thấy đói, thấy cần ăn, nó thấy khát, cần uống, thấy buồn ngủ và đòi ngủ. Ham muốn và nhu cầu là hai thứ khác hẳn nhau. Ham muốn thuộc về tư tưởng. Nhu cầu thuộc về cơ thể. Và cả khi ngay cả nhu cầu cũng mất đi thì bạn vượt qua được bờ bên kia của thời gian, nó là vĩnh hằng, vĩnh cửu. Và khi không thấy có thời gian thì nó thấy không có cái sinh cái diệt. Trong sự tồn tại hiện diện thì không có thời gian. Thời gian chỉ đến với ký ức về quá khứ và sự tưởng tượng về tương lai. Nếu con người cảm thấy mình không có trên trái đất này, trong không gian này thì thời gian tự biến mất ngay tức khắc. Nếu bạn phân biệt được ham muốn và nhu cầu thì bạn đã đạt được một điều mấu chốt của sự tồn tại. Nhu cầu là tươi đẹp; còn ham muốn là xấu xa. Bạn đang bị nô lệ và bạn sẽ còn bị nô lệ trừ khi bạn ngưng các ham muốn lại. Hãy cắt bỏ mọi ham muốn vì chúng không phải là sự tự nhiên. Còn nhu cầu là tự nhiên. Nhu cầu là rất đơn giản. Chỉ có ăn, uống, ở và yêu thương thôi. Một người đã đạt tới không ham muốn thì sớm muộn gì rồi cũng vượt qua những nhu cầu bởi vì cơ thể không còn cần thiết nữa. Cơ thể là phương tiện của tâm trí. Nếu tâm trí đã không còn tồn tại thì cơ thể không còn cần thiết phải có những nhu cầu nữa. Hiện tại là đang ở đây và bây giờ. Hiện tại là sự tồn tại. Chỉ có thời điểm này là có thật. Khi ham muốn và suy nghĩ biến mất, bỗng nhiên bạn rơi vào thời điểm sống hiện tại này và từ đây sẽ mở ra cánh cửa đi tới điểm mãi mãi.

…Khi vứt bỏ bản ngã, bạn là một với tự nhiên như một dòng chảy ra biển cả, như một làn gió thoảng qua một rặng tùng, hay một đám mây nhởn nhơ trên bầu trời. Không có bản ngã, bạn trở thành một phần của thiên nhiên hoang dã, thoáng đãng và tự nhiên. Có bản ngã, bạn bị căng thẳng, bị tách biệt, bị cắt đứt tất cả mọi quan hệ. Bản ngã không cho phép bạn chuyển động tự do toàn bộ trong bất cứ cái gì. Nó luôn kìm hãm bản thân bạn. Nó là sự ràng buộc lớn nhất. Nó chỉ tồn tại khi bạn đang còn trong trạng thái ngủ. Khi bạn tỉnh dậy, bạn sẽ thấy bạn biến mất. Và Thượng đế xuất hiện. Đó là sự tồn tại này. Khi bạn đạt tới vô ngã, bạn sẽ thấy sự tức giận sẽ không còn nữa, sự mất cân bằng, sự điên rồ cũng không còn nữa. Bạn bỗng nhiên cảm thấy bạn chỉ là cái hư không.

…Con đường tự nhiên của con người thì rất đơn giản nhưng bạn trông như rất phức tạp bởi vì bản ngã luôn là cái gì khó để chứng tỏ, để thách thức. Nếu bạn không làm gì, chỉ ngồi và im lặng, để mặc cho cái gì trôi cứ trôi, cái gì đứng cứ đứng, cái gì đi cứ đi, thì bản ngã không thể tồn tại. Chúa Jesu có bảo: “Hãy yêu lấy kẻ thù của mình”. Đây không phải vấn đề yêu kẻ thù, mà là hãy quên mình đi, hãy trở thành sự yêu thương cả khi có kẻ thù. Căm thù chỉ tồn tại khi bạn còn bản ngã. Nó làm đau bạn và đau những người khác. Đây là một trò ngu xuẩn vì làm hại người khác chính là làm hại bạn. Nó sẽ quay trở lại bạn vào một thời gian sau. Bạn sẽ bị nó hành hạ. Tất cả những kẻ phạm tội đều do ngu ngốc. Bản ngã biến mọi thứ thành chất độc. Nếu bạn đau khổ, không bao giờ bạn nghĩ là do bạn nhận thức sai lầm mà do một ai khác đã gây ra cho bạn. Bản ngã luôn ném trách nhiệm cho người khác. Bản ngã làm cho bạn nghĩ là bạn tồn tại, ý tưởng về bản thân làm cho bạn đau khổ. Nếu bạn làm cho cuộc đời vui tươi, giản dị, không tỏ ra nghiêm trang, không quan trọng hóa vấn đề thì bản ngã của bạn biến mất. Nghiêm nghị là biểu hiện bệnh lý của bản ngã. Cuộc sống chân thành, cởi mở là biểu hiện của trái tim. Một người sống sâu xa đến mức anh ta không biết đến cái chết thì không có năng lượng nào bị rời bỏ, bị xác nhận là cái chết. Cái chết chỉ đến khi bạn sống bề mặt. Khi bạn sống sâu sắc thì cái chết trở thành sự sống. Khi bạn sống hời hợt thì sự sống thành cái chế.

…Tham vọng, ham muốn chính là con đường dẫn đến địa ngục. Nó chỉ còn tồn tại trong con người đang mơ ngủ. Khi bạn thức tỉnh, ham muốn không còn có thể đánh lừa bạn được nữa. Lúc đó đồng tiền không thể lừa bạn rằng hãy có nhiều tiền thì bạn sẽ sung sướng, hạnh phúc. Hãy nhìn vào những người giàu có, họ cũng đang ở trong địa ngục. Có thể là một cái địa ngục bằng vàng, nhưng nó thậm chí còn khủng khiếp hơn cái địa ngục nghèo nàn. Một người nghèo thì còn sợ hãi vì lý do nào đó và sự sợ hãi đó còn có thể được giải quyết. Còn người giàu có thì luôn ở trạng thái lo sợ. Lo sợ không vì một lý do nào cả! Anh ta có mọi thứ. Nhưng khi mọi ham muốn đã được thỏa mãn thì chỉ còn lại sự chán chường vô nghĩa ở đời. Không còn gì để khao khát, chúng không còn dẫn anh ta đi tiếp trên nẻo đường đời nữa. Và anh ta dừng lại gần như đã chết.

…Ham muốn chỉ sinh ra ở con người chưa tỉnh và còn đang ngủ trong lúc tỉnh và có ý thức. Còn nhu cầu thuộc về vô thức. Ham muốn thuộc về một tư tưởng có ý thức. Vô thức không biết tới ham muốn. Nó chỉ quan tâm làm sao thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hãy thực hiện các nhu cầu và đừng bận tâm về ham muốn, nếu ham muốn có niềm hạnh phúc thực sự. Ý thức chỉ thuộc về một kiếp sống này, nhưng vô thức tàng chứa tất cả các kinh nghiệm từ khi bạn còn là hòn đá, cái cây, còn là động vật. Trong khi vô thức là một nguồn to lớn của minh triết. Hãy lắng nghe nó.

…Sự thư giãn hoàn toàn là siêu nhiên. Đó là khoảnh khắc khi con người trở thành một vị phật. Bạn không thể thư giãn toàn phần ngay bây giờ được, ở sâu xa, cốt lõi bên trong vẫn còn sự ngần ngại. Hãy thư giãn từ phần ngoại vi trước. Đầu tiên hãy thư giãn phần cơ thể bạn, trong sự cư xử và hành động của bạn. Hãy đi theo kiểu thư giãn, ăn theo kiểu thư giãn, nói và nghe theo kiểu thư giãn. Hãy làm chậm lại tất cả mọi tiến trình, đừng có vội vàng, hấp tấp. Hãy đi và cảm thấy như sự vĩnh cửu đang thâm nhập vào bạn và thực tế đã là vậy. Chúng ta luôn ở đây và mãi ở đây. Chỉ có hình dáng là thay đổi, nhưng không có sự thay đổi về nội dung. Chỉ có thể xác thay đổi, chứ tâm hồn thì không.
Sau đó bước thứ hai, sâu hơn một chút, hãy báo cho tư tưởng thư giãn và nếu cơ thể đã biết lắng nghe thì tư tưởng cũng vậy. Khi tư tưởng thư giãn thì bạn bắt đầu thư giãn từ trái tim. Đó là thế giới cảm xúc, cảm nhận của bạn, nó phức tạp hơn tư tưởng. Tiếp theo là bước thứ tư, bạn đi vào cốt lõi sâu xa nhất của bạn. Điều này vượt qua thể xác, tư tưởng và trái tim. Nó là trọng điểm sự tồn tại của bạn. Rồi sự thư giãn này chắc chắn sẽ mang bạn tới một niềm vui bất tận, sự an lạc chân phúc vô biên. Toàn bộ sự tồn tại có phẩm chất một bài ca, một điệu vũ, kể cả bạn. Toàn bộ sự tồn tại trong một trạng thái nghỉ ngơi tối hậu: con chim, cành cây, sông núi đều ở trạng thái thanh tịnh, không vội vàng hấp tấp, không lo lắng, rạo rực, điên rồ. Sự thư giãn toàn bộ là vương quốc của Thượng đế.

…Hãy chấp nhận bản thân bạn là một mình; sinh ra một mình và chết đi cũng một mình. Hãy chấp nhận bạn đang sống một mình giữa đám đông, dù đang sống với một người thân yêu trong gia đình. Bạn có thể sống với ai đó 20, 30, 40 năm nhưng cứ coi như là khách. Chúng ta là khách. Tôi không biết bạn là ai và tôi cũng không biết tôi là ai. Chúng ta là khách do duyên số gặp nhau và cùng nhau làm việc. Nhưng sự một mình của chúng ta vẫn còn ở đây. Đừng chạy trốn khỏi bản thân bạn. Ném mình vào hút sách ma túy, vào các quan hệ chính trị, tôn giáo là trốn chạy khỏi bản thân, Nhưng khi chạy  trốn như vậy thì bản ngã được thỏa mãn vì họ nghĩ rằng họ đang phụng sự nhân loại. Hãy ngừng việc đổ mọi vấn đề lên đầu người khác. Hãy đi vào bản thân bạn, trở về cái bản lai chân như của bạn. Bạn càng đi sâu vào nó thì những vấn đề rắc rối càng ít đi. Lúc đạt tới trung tâm con người bạn thì bạn đã về tới nhà.Từ đó bạn có thể làm bất cứ điều gì để giúp đỡ mọi người mà không đổ lên đầu họ nữa.

…Con đường của Đạo không phải là sự đột nhiên, nó không giống như Thiền. Thiền là đột nhiên giác ngộ. Đạo là phát triển có thứ bậc. Đạo thiết lập trên cơ sở hòa với sự tồn tại, cho phép mọi thứ xảy ra theo tự nhiên của nó, không can thiệp vào dòng chảy bằng bất cứ cách nào; bạn không cần phải vội vã bởi vì sự vĩnh cửu là thích hợp với bạn. Hãy gieo hạt và hãy đợi, mùa xuân sẽ đến, hoa sẽ nở, chỉ cần đợi mà không cần nóng lòng. Đừng bắt cái cây phải mọc nhanh. Hãy học cách chờ đợi vì tự nhiên chảy vô cùng chậm. Đạo nóii rằng mọi thứ xảy ra khi nó cần phải xảy ra. Hãy ở trong trạng thái thư giãn và tự cho phép mình hòa theo dòng chảy. Cần phải làm, nhưng không được là người làm. Phải học cách hành động thông qua phi hành động. Con người hãy hành động như công cụ của Thượng đế, hành động một cách vô ngã. Khi hành động xong, bạn hãy biến mất, hành động đáp ứng, nhưng đừng còn thừa mình lại. Làm việc gì hãy hòa hết mình vào nó, như vậy là một người hoàn thiện: tâm hồn anh ta được nghỉ ngơi, anh ta không làm, anh ta chỉ đáp ứng với sự sống, tâm của anh ta hài hòa, không từ bỏ thế gian, hành động trong cuộc đời, làm mọi thứ cần làm, nhưng vẫn còn lại siêu việt tách biệt ra khỏi chúng. Lúc đó bạn sẽ thấy một bí mật: mọi sự diễn ra trong cuộc đời đều theo qui luật của riêng nó. Trong bạn sẽ có sự gặp gỡ giữa đàn ông và đàn bà, giữa cá nhân và tổng thể.Đó là sự vĩnh cửu. Khi điều đó xảy ra, bạn sẽ vượt qua cái chết.

…Nguyên nhân của mọi căng thẳng(stress) là sự trở thành. Không ai cảm thấy thoải mái với con người hiện thực của mình. Thực tại hiện hữu không được chấp nhận, bị từ chối và một cái gì đó khác luôn chiếm hữu tâm trí con người như một lý tưởng để trở thành. Lý tưởng càng không thể thực hiện được, sự căng thẳng càng trở nên chắc chắn hơn. Khi bạn không mong muốn trở thành bất kỳ ai khác hơn là con người hiện thực của bạn thì tâm hồn sẽ được giải thoát ngay trong khoảnh khắc hiện tại. Sự chấp nhận hoàn toàn này là một phép màu, một phép màu duy nhất. Khi sự căng thẳng đến, đầu tiên hãy chấp nhận nó, không cần phải chống lại nó. Stress đơn giản là một thông báo rằng cơ thể đã làm điều gì tranh chấp trong nó. Hãy đón chào nó. Và khi bạn đã bắt tay với nó, bạn sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng có một sự thư giãn lớn đến với bạn. Khi bạn chấp nhận nó, nó sẽ tự biến mất. Con người cần phải hiểu kiểu dạng của mình. Có hai loại người trên trái đất: Người vội vàng và người bình tĩnh. Khi đã hiểu kiểu người của mình thì không còn vấn đề nan giải.

…Bạn có một ngoại cảnh. Và không có một ngoại cảnh nào có thể tồn tại mà không phản ánh tới nội tâm. Tất cả mọi sự tồn tại là do từ sự phóng chiếu của nội tâm. Thế giới bên trong có ba nấc thang: Suy nghĩ là lớp bao ngoài nhất; sau đó đến cảm giác, cảm xúc- một cái gì sâu xa hơn, và sau cùng là con người chân thật, tốt đẹp, vĩnh cửu của riêng từng người. Chỉ có một phương pháp: đó là theo dõi, chứng kiến. Bạn sẽ vượt qua suy nghĩ, tư tưởng và trái tim. Bây giờ đến sự im lặng, bình an vô cùng, không còn gì chuyển động. Đó là con người bạn, là sự thật, là sự tồn tại. Bạn không còn tách biệt với sự tồn tại, mà hòa làm một với nó. Cái cây, mặt trăng, các vì sao, các ngọn núi, tất cả là một phần của một điều duy nhất. Bạn hãy là một phần của chính thể thống nhất này.

…Tất cả những điều gì bạn suy nghĩ đều xuất phát từ thức ăn. Cơ thể từ thức ăn mà ra, tư tưởng từ thức ăn mà ra, tâm hồn cũng từ thức ăn mà ra. Vượt qua bờ bên kia của tâm hồn thì mới không phụ thuộc vào thức ăn. Đó là vô ngã - Sự trống rỗng hoàn toàn - Tâm không. Nó là sự nhận thức không có nội dung. Thức ăn không chỉ biến đổi thể xác mà còn làm biến đổi tư tưởng của bạn. Nó làm cho tư tưởng của bạn hướng về một loại ham muốn nhất định, một ý tưởng có chiều hướng nhất định.

…Bạn đang chạy theo đồng tiền, ai còn có thì giờ để ngắm hoa hồng, những bông hoa, những con chim sải cánh hay tính nhân đạo trong con người mình. Bạn có thể cảm thấy sung sướng lúc bạn có tiền,  nhưng sau đó bạn trở thành bệnh nhân mù màu, mất cảm xúc trước các bông hoa, bạn không cảm thấy hay khi nghe nhạc, không thể nhảy múa, không thể thấm thía một bài thơ. Bạn chỉ hiểu từ đôla. Nhưng đôla không mang lại sự thoải mái. Đây là nguyên nhân của sự chán nản. Một người chạy theo đồng tiền sẽ bỏ qua mọi cánh cửa hướng tới thánh thần. Sự giàu có bên ngoài là mảnh đất nuôi nấng cho sự thiếu thốn hẫng hụt ở bên trong. Chỉ khi nào bạn không còn mê giàu, say mê thế giới hào hoa bên ngoài thì mới có thể đi vào bên trong. Bạn chỉ có thể đi vào bên trong khi đã cực kỳ chán ngán và thất vọng với thế giới bên ngoài; như bạn đã thấy rõ trò đời, bạn đã sống chán chê ở đời, bạn đã từng trải nó và nhận ra nó chẳng có gì thi vị cả. Thế giới bên ngoài không cho bạn cái gì ngoài sự chết chóc tâm hồn. Sự sống phải tìm ở bên trong. Nguồn sự sống ở bên trong bạn.

…Hôn nhân là một kiểu nhà tù. Con người không được phép sở hữu nhau. Con người sinh ra là để tự do, không phải làm vật sở hữu và tình yêu cần trở thành một tình yêu vui vẻ. Nếu bạn muốn đẻ con, đứa con sẽ thuộc về xã hội, nhưng bà mẹ không thể bị dán nhãn như một bà mẹ, một bà vợ hay một cô gái điếm. Tất cả mọi mác, nhãn cần phải bỏ đi.

…Hãy để chính trị cho những người dốt nát, vô cùng dốt nát, những người không biết làm gì. Hãy cố gắng học hành để trở thành một nhà khoa học, nhà thơ, họa sỹ, nhạc sỹ, nhà văn, thợ mộc, đưa thư… trở thành người thông minh, trở thành người kiến tạo. Nếu bạn nhìn xung quanh thấy mình vô dụng, không thể kiến tạo thì hãy đi vào chính trị. Hãy để chính trị cho những người này. Nếu bạn không cho họ chính trị, họ sẽ trở thành tội phạm. Chỉ hãy nhận biết về bản thân mình, hãy tỉnh táo.

…Con người cần trở thành một đơn nhân biết sống toàn bộ, sống không còn tham vọng và không còn sự sợ hãi, sống theo sự tự nhiên của mình. Khi con người bị phát triên lệch lạc, anh ta sẽ yêu khoa học, yêu tiền, yêu tâm linh, yêu vật chất, yêu quyền lực mà quên mất một điều yêu sự nhận thức và hiểu biết về mình và về thế giới bên ngoài. Cuộc sống, bản thân nó đã hoàn toàn đủ cho nó. Nó chấp nhận bạn như bạn hiện hữu.  Nó không cần bạn phải ồn ào về việc bạn sẽ trở thành ai đấy. Cái đó thuộc về đám đông, những kẻ điên, những kẻ đang phạm tội. Hòn đá có thể phá hủy bông hồng, nhưng không có nghĩa là nó mạnh hơn bông hồn. Đơn giản là hòn đá vô hiểu biết về điều nó đang làm.

Friday, January 5, 2018

Author THIENOSHO posted on 10:17 AM in
Ghét bỏ chỉ có thể khi con người là vô thức: không ý thức, không quan tâm, không nhận biết

Tôi cảm nhận nhiều sự ghét bỏ trong tôi, tôi có thể làm gì về điều đó?
Làm sẽ không ích gì. Bạn không thể làm bất kỳ điều gì về nó bởi vì đó là vấn đề rất tinh tế. Nếu bạn bắt đầu làm một cái gì đó về sự ghét bỏ của mình thì điều đó có nghĩa là bạn sẽ bắt đầu ghét sự ghét bỏ của mình. Cơ cấu rất tinh vi. Con người có thể tức giận đối với sự giận dữ của người khác, và con người có thể ghét sự căm thù của người khác, và bạn có thể đấu tranh với nó, nhưng bạn sẽ không chiến thắng bởi căn bệnh đã thâm nhập vào rất sâu.
Đừng làm bất kỳ điều gì. Chỉ nhận biết nó. Bất kỳ khi nào bạn cảm nhận được ghét thì chỉ nhận biết nó. Đừng cố trốn khỏi nó.
Thậm chí việc làm của bạn có thể trở thành sự  bỏ trốn. Nếu tôi tức giận và tôi bắt đầu làm một cái gì đó về sự giận dữ đó, thế thì tôi không liên quan đến giận dữ mà lại liên quan đến việc làm một cái gì đó về nó. Nhận thức của tôi đã thay đổi: nhận biết của tôi không còn nữa mà thay vào đó là nỗ lực để làm một cái gì đó về nó đã xuất hiện. Điều này là không tốt, đây không phải là phương pháp, bởi nếu thế thì giận dữ sẽ bị kìm nén.
Cho nên nếu bạn cảm nhận căm thù, giận dữ, tham lam hoặc bất kỳ điều gì khác thì đừng cố gắng làm một cái gì đó ngay lập tức, mà chỉ nhận biết nó. Đầu tiên nhìn sự xấu xí của nó, nhìn sự độc hại của nó, nhìn xem nó là gì. Một lúc nào đó bạn sẽ nhìn thấy ghét là gì trong sự toàn bộ của nó, nó sẽ tự rơi rụng. Sự ghét bỏ không thể tiếp tục chỉ nếu bạn đã biết nó trong sự toàn bộ. Nó giống như con rắn bò qua đường, thời điểm bạn nhận biết về con rắn, bạn nhảy.
Cú nhảy đó không phải là một cái gì đó mà bạn phải nghĩ về, phải quyết định hoặc chọn để thực hiện; nó xảy ra. Khi bạn nhận biết về con rắn thì cú nhảy xuất hiện, không sự chuẩn bị nào là cần đến.
Điều đầu tiên phải nhớ là: Đừng lên án bất kỳ điều gì, đúng hơn là trở nên nhận biết nhiều hơn về thực tại của nó. Bất kỳ khi nào điều đó xảy ra, hãy nhận biết nó, thiền về nó.
Điều thứ hai, thậm chí còn tinh tế hơn, đó là ý nghĩ của bạn, “ta cảm nhận căm thù bên trong ta. Ta cảm nhận giận dữ, tham lam và bản ngã.” Đây lại là trò bịp bợm rất ranh mãnh của tâm trí, một trò lừa bịp rất ma mãnh, bởi vì sau đó, theo cách rất tinh tế, bạn đã chia rẽ chính bạn với ghét. Bạn đang nói: “Ta nhìn thấy ghét trong ta, ta nhìn thấy sự tham lam trong ta. Tham lam là một cái gì đó trong ta mà không phải ta. Ta không tham lam, ta không ghét, ta không giận dữ. Đó là một cái gì đó rất tình cờ,  một cái gì đó lạ trong ta.”
Đây là cách mà tâm trí nghĩ và cách mà ngôn ngữ đánh lừa chúng ta. Ngôn ngữ nói: “có giận dữ trong ta”, nhưng thực tế không phải như vậy. Khi bạn giận dữ không phải là giận dữ đang trong bạn… bạn là giận dữ. Không thể có hai thực thể ở đó, chỉ có một, ghét bỏ có thể hiện diện hoặc bạn có thể hiện diện, nhưng cả hai không thể hiện diện. Nếu bạn hiện diện vậy thì ghét bỏ biến mất, nếu ghét bỏ hiện diện vậy thì bạn không có đó.
Hãy tiến lên bởi chính tồn tại mà không phải bởi ngôn ngữ. Ngôn ngữ tạo ra nhiều rắc rối. Vì cấu trúc của ngôn ngữ mà chúng ta có thái độ không chân thực đối với nhiều vấn đề. Ví dụ khi bạn giận dữ, không có “ta” đối với người mà bạn đang giận dữ. Chỉ có giận dữ, bạn bị tan biến vào trong nó, bạn không còn là bạn.
Hãy xem xét vấn đề bởi chính tồn tại. Khi có ghét thì hãy trở nên nhận biết cho dù bạn hiện diện hay chỉ mình ghét hiện diện. Thế thì sự thay đổi rất tinh tế xảy ra trong tâm thức bạn. Một lúc nào đó khi bạn nhận biết về “ta là” ghét bỏ thì tâm thức của bạn bắt đầu hiện ra. Bạn càng ý thức thì ghét bỏ sẽ càng tan biến. Cả hai không thể tồn tại đồng thời. Ghét bỏ chỉ có thể khi con người là vô thức: không ý thức, không quan tâm, không nhận biết.
Khi ghét bỏ biến đi, giận dữ biến đi, bạo lực biến đi và bạn nghĩ về nó như là quá khứ thì nó trở thành một phần của ký ức bạn. Bấy giờ bạn có thể tách bạn khỏi nó. Bạn là riêng biệt với giận dữ và giận dữ là riêng biệt với bạn. Bấy giờ nó là một phần của ký ức bạn.
Đây là sự ngụy biện ngôn từ mà tôi muốn nói đến, nó được hỗ trợ bởi kinh nghiệm của bạn.
Bạn tức giận thời điểm trước đó, bây giờ bạn không - tức giận đã biến mất. Bạn là riêng biệt khỏi giận dữ: Bạn là cái này, còn giận dữ là một cái gì đó khác – giận dữ đã trở thành một phần kí ức của bạn. Bấy giờ có hai vấn đề: ký ức về trải nghiệm quá khứ, về giận dữ của bạn và bạn.
Nhưng trong chính hành động giận dữ, chỉ có một thứ: Bạn giận dữ. Cho nên bất kì khi nào có ghét bỏ, thì hãy cảm nhận nó một cách sâu sắc. Hãy nhận biết nó, bạn đã trở thành ghét, bạn là sự ghét bỏ. Sự nhận biết này sẽ thay đổi toàn bộ vấn đề.
Vào ngày mà nhận biết xuất hiện trong bạn thì ghét bỏ sẽ biến đi, bởi vì với bạn, việc cùng tồn tại với ghét hoặc với giận dữ hoặc với tham lam là điều không thể. Nhận biết có nghĩa là tâm trí tỉnh táo; giận dữ, ghét bỏ và tham lam là có thể chỉ khi trong vô thức sâu, trong trạng thái ngủ của tâm trí. Hãy cảnh giác nhiều hơn – và không hồi tưởng quá khứ, bởi điều đó là vô dụng, là lãng phí năng lượng. Khi giận dữ, khi ghét bỏ hiện diện thì tại chính thời điểm đó hãy nhắm mắt và thiền, cho dù có bạn hay chỉ có giận dữ. Sự nhận biết đầu tiên của bạn sẽ chỉ là giận dữ. Bạn ở đâu? Bạn không hiện diện. Toàn bộ năng lượng đã trở thành giận dữ.Đôi khi những người yêu cảm nhận rằng khi có tình yêu thì họ không có lòng ghét. Cảm nhận này trong tình yêu là điều dễ dàng bởi vì tình yêu là mãn nguyện, nhưng để cảm nhận nó trong ghét bỏ thì lại là điều khó khăn bởi vì ghét không phải là mãn nguyện. Những người yêu, những người yêu sâu sắc, đã cảm  nhận rằng họ không “yêu” – nên không phải hành động – đúng hơn là họ đã trở thành tình yêu.
Khi bạn yêu một người nào đó, bạn trở thành tình yêu. Khi bạn ghét một người nào đó, bạn trở thành ghét. Nhưng nếu bạn chỉ giữ nguyên là chính bạn, vậy thì bạn không thể là yêu hay ghét theo cách thông thường. Chính vì vậy mà chúng ta nói rằng một người nào đó đã bị rơi vào tình yêu. Hiện tượng yêu là ngã xuống, và ngã vào tình yêu có nghĩa là bạn mất sự tỉnh táo của mình vì tình yêu. Những người yêu nhìn có vẻ điên khùng đối với những người không yêu. Họ là như vậy! Bạn không thể giao tiếp với họ, họ không trong những giác quan của họ.
Thực sự họ không phải vậy; toàn bộ năng lượng đã trở thành tình yêu, họ bị đồng dạng với nó một cách tuyệt đối. Không có sự chứng kiến tuyệt đối với hiện tượng tình yêu.
Điều tương tự cũng xảy ra với ghét. Yêu và ghét là như nhau, bởi vì nó là cùng một trường năng lượng đảo ngược. Khi bạn đang yêu, bạn bị thu hút một cách điên khùng; khi bạn ghét, bạn bị cự tuyệt một cách cương quyết. Khi bạn yêu, bạn trở nên bị hấp dẫn đối với một người nào đó, bạn mất trung tâm của mình, mất bản thân mình, và một người nào đó khác trở thành trung tâm. Khi bạn ghét một người nào đó, điều tương tự cũng xảy ra, một người nào đó cự tuyệt bạn, bạn không ở trung tâm, bạn mất ý thức về mình, và một người khác trở thành trung tâm.
Nên nhớ điều này – không hồi tưởng quá khứ mà ở chính thời điểm của sự kiện xảy ra. Khi bạn cảm nhận ghét hiện diện thì hãy nhắm mắt, quên tình trạng bên ngoài, và ý thức với điều đang xuất hiện bên trong bạn. Toàn bộ năng lượng đã trở thành ghét. Nếu bạn quan sát nó, thì một phần của năng lượng đột nhiên biến đổi chính nó thành nhận biết. Trụ của ý thức sẽ xuất hiện từ sự náo loạn của ghét hoặc yêu, hoặc bất kỳ điều gì. Và trụ càng xuất hiện nhiều thì sự náo loạn bên trong sẽ bị bỏ rơi và biến mất. Vậy thì khi bạn cảm nhận bạn là bạn, bạn sẽ thấy rằng ghét không còn nữa. Bạn trở thành bản thể, thành trung tâm; người khác không thể thành trung tâm nữa, hoặc là thu hút hoặc là cự tuyệt…
Thiền này phải được thực hiện tại chính thời điểm của sự kiện. Vậy thì bạn sẽ trở thành con người hoàn toàn khác. Không phải là bạn đã chinh phục được ghét của mình, không phải là bạn đã kiểm soát được tâm trí. Bấy giờ bạn thức tỉnh, bạn là ánh sáng cho chính mình. Vì ánh sáng này mà bóng đêm sẽ trở thành điều không thể. Bây giờ bạn là con người thức tỉnh. Ghét đã trở thành điều không thể bởi vì ghét cần sự vô thức của bạn như là yêu cầu cơ bản.
Điều này phải được hiểu một cách rất rành mạch và rõ ràng: Ghét cần sự vô thức của bạn. Đó là thức ăn của ghét, đó chính là nơi mà ghét lấy sức mạnh của nó. Cho nên đừng làm bất kỳ điều gì về ghét, chỉ làm một cái gì đó cho tâm thức bạn. Trở nên tỉnh táo hơn đối với những hành động của bạn, những ý nghĩ của bạn, những tâm trạng của bạn – về bất kỳ điều gì xuất hiện.
Con người thức tỉnh không ghét hoặc không tràn đầy tình yêu. Chính vì vậy mà chúng ta đã sử dụng những câu nói khác nhau để nói về Phật. Chúng ta có thể nói rằng Phật yêu mọi người, như thế thì lời nói cũng có thể mang ý nghĩa tương tự rằng chúng ta liên quan với nó một cách chung chung. Phật không thể yêu bạn bởi vì phật không thể ghét bạn, người không thể bị cự tuyệt hoặc bị thu hút bởi bạn; trong cả hai trường hợp, người khác là trung tâm. Phật không yêu mà giàu lòng trắc ẩn, và sự khác biệt là rất sâu sắc.
Khi bạn cảm nhận lòng trắc ẩn, bạn giữ nguyên là trung tâm; bạn không thể bị cự tuyệt hoặc thu hút. Đó là trạng thái rất trung tính. Người khác sẽ cảm nhận rất sâu sắc rằng bạn yêu họ, nhưng…
Nếu bạn đến với Phật, có thể bạn cảm nhận rằng người yêu bạn. Đó là tự do của bạn. Ở bất kỳ thời điểm nào bạn cũng có thể cảm nhận rằng người ghét bạn. Đó cũng là tự do của bạn. Đó là sự phóng chiếu của bạn rằng người yêu hoặc ghét. Thực tế, người không yêu cũng không ghét, người giữ nguyên là chính mình, và lòng từ bi tuôn chảy.
Nhìn xem sự khác biệt là gì? Nếu bạn không ở trong phòng này, tôi không thể yêu bạn hoặc không thể ghét bạn. Nếu tôi muốn ghét bạn thì tôi phải có đối tượng để ghét, cho nên nếu bạn không có ở đây thì tôi sẽ phải tưởng tượng rằng bạn đang ở đây. Tình yêu dừng khi người yêu vắng mặt và ghét dừng khi kẻ thù không hiện diện. Nếu họ vắng mặt thì bạn làm cho họ có mặt trong sự tưởng tượng của bạn.
Lòng từ bi có nghĩa là thậm chí nếu không có ai ở đó thì Phật sẽ vẫn là người giàu lòng từ bi. Đó không phải là sự tưởng tượng của người, đó là trạng thái tự nhiên của người. Như dòng sông cuộn chảy, Phật là người giàu lòng thương cảm. Không bao giờ người khác là một phần của điều đó, người khác không là trung tâm, chính người giữ nguyên là trung tâm.
Khi con người trở thành trung tâm, khi con người trở thành thanh khiết, thì không có cự tuyệt hoặc thu hút đối với bất kỳ ai khác. Điều này tạo ra vấn đề sâu sắc hơn, bởi vì nó có nghĩa rằng bạn không thể vượt ra bên ngoài ghét, trừ khi bạn vượt lên trên tình yêu. Mọi người muốn vượt ra ngoài ghét, nhưng không muốn vượt ra ngoài tình yêu. Nhưng điều đó lại tạo ra tình trạng không thể đối với bạn, bởi vì ghét là cùng một phần của hiện tượng cự tuyệt và thu hút.
Làm cách nào bạn chỉ ở trong tình yêu, làm cách nào có thể thu hút với mọi thứ? Chúng ta không ngừng cố gắng yêu theo nhiều, rất nhiều cách, nhưng chỉ có duy nhất một cách dễ dàng là ghét một ai đó và yêu một người nào đó khác. Đó là cách dễ dàng, bạn biến người này thành kẻ thù và người kia thành bạn của mình. Và thế là bạn có thể thoải mái, bạn có thể thu hút với A và cự tuyệt với B. Đây là một cách. Cách khác, thậm chí còn phức tạp hơn là ghét cùng người mà bạn yêu. Chúng ta đã thực hiện điều này. Vào buổi sáng chúng ta yêu, vào buổi chiều chúng ta ghét, và nửa đêm chúng ta lại yêu. Mọi người liên tục di chuyển giữa ghét và yêu, thu hút và cự tuyệt. Freud đã từng nói, và nói rất thật rằng bạn phải ghét cùng một người bạn yêu – không thể ngược lại.
Điều này trở nên càng thực hơn khi chúng ta rũ bỏ mọi bung xung mà chúng ta có vì sự ghét bỏ của chúng ta. Bạn có thể yêu đất nước bạn và ghét đất nước khác, bạn có thể yêu tôn giáo bạn và ghét tôn giáo khác, bởi vì nếu bạn yêu một người nào đó hoặc một cái gì đó thì bạn phải cân bằng giữa yêu và ghét. Vậy thì một đối tượng sẽ phải trở thành cả yêu và ghét. Sự lưỡng cực này là điều tự nhiên. Nếu bạn yêu, bạn phải ghét. Có những người không ngừng thuyết giảng: “Yêu toàn bộ thế gian.” Nhưng bạn không thể yêu toàn bộ thế gian, trừ khi bạn khám phá ra thế giới khác để ghét. Tôi không nghĩ Trái Đất này có thể trở thành duy nhất cho đến khi chúng ta khám phá ra những kẻ thù ở hành tinh khác. Thời điểm chúng ta khám phá ra kẻ thù ở nơi nào đó - và chúng ta đang cố hết sức để tìm ra nó – vậy thì toàn bộ thế giới có thể trở thành một.
Toàn bộ trái đất không thể trở thành một trừ khi chúng ta có hành tinh khác để gây chiến. Thậm chí tin đồn cũng hẳn là có ích. Linus Pauling, một nhà bác học vĩ đại, giải thưởng Nobel, có một lần đã đề nghị, hẳn là tốt nếu tạo ra tin đồn trên khắp thế giới thông qua Liên Hiệp Quốc rằng người Hỏa tinh chuẩn bị tấn công trái đất, và tất cả các nhà khoa học trên thế giới ủng hộ tin đồn đó, thế thì hẳn là sẽ không còn chiến tranh trên Trái Đất. Và ông ta có lý. Với con người thì đó hẳn là điều tốt. Nói dối có thể có ích. Sự thật đã không ích gì.
Với yêu thì sẽ có ghét, và bạn phải tìm ra một vài đối tượng để chú ý đến. Cho nên nếu bạn càng yêu thì bạn sẽ càng ghét. Đó là cái giá mà con người phải trả. Nên nhớ điều này, yêu và ghét đồng hành cùng nhau hoặc không bao giờ có cả hai.
Ghét sẽ mất không phải bởi bạn làm bất kỳ điều gì, mà bởi nhận biết nhiều hơn, tỉnh táo hơn, cảnh giác hơn. Trở nên ý thức và bạn sẽ ở trung tâm của mình, và không ai sẽ có khả năng mang bạn đi xa khỏi trung tâm của bạn.
Ngay bây giờ, bất kỳ ai cũng có thể thực hiện điều đó. Một số thực hiện điều đó bởi yêu, một số khác thực hiện điều đó bởi ghét, nhưng bất kỳ ai cũng có thể mang bạn đi xa khỏi trung tâm của bạn. Bạn thực sự không có trung tâm, chỉ có trung tâm giả và nó chỉ đợi bất kỳ ai đến và mang bạn đi xa khỏi nó.
Tỉnh táo có nghĩa là trung tâm, liên tục định tâm bên trong. Vậy thì cả hai, yêu và ghét biến  mất. Chỉ khi cả hai biến mất thì bạn trong tĩnh lặng.
Thực sự những triệu chứng của bạn là quá giống nhau. Khi bạn ngập chìm trong ghét, bạn không thể ngủ. Khi bạn chìm đắm trong yêu, huyết áp của bạn tăng, và khi bạn ngập chìm trong ghét, huyết áp của bạn cũng tăng. Tất cả triệu chứng là như nhau: Bạn trở nên căng thẳng. Khi một người nào đó đang yêu, anh ta trở nên mệt mỏi, kiệt sức, và chán nản bởi những điều tầm thường – cũng như vậy với ghét. Cả hai đều căng thẳng, đều bệnh tật.
Khi tôi nói “bệnh tật” tôi đang sử dụng nghĩa đen của từ disease (không thoải mái). Bạn không thể thoải mái trong yêu hoặc trong ghét, bạn chỉ có thể thoải mái nếu không có gì bên trong bạn, không yêu hoặc không ghét. Thế rồi bạn vẫn giữ nguyên trong chính bạn, một mình trong chính tâm thức bạn. Bạn tồn tại mà không có bất kỳ ai khác, người khác trở thành vớ vẩn: bạn định tâm.
Vậy thì lòng trắc ẩn sẽ xuất hiện. Nó là hiện tượng theo sau, khi có sự định tâm. Lòng trắc ẩn không phải yêu hoặc ghét, không phải là thu hút hoặc cự tuyệt, nó là khía cạnh hoàn toàn khác. Đó chỉ là bản thể bạn, di chuyển theo chính bạn, sống vì chính bạn. Có thể có nhiều người thu hút tới bạn, có thể có nhiều người cự tuyệt bạn, nhưng đó chỉ là những phóng chiếu của họ – đó là rắc rối của họ. Bạn có thể cười về điều đó và giữ nguyên không liên quan.

Saturday, October 21, 2017

Author THIENOSHO posted on 7:04 AM in
Mọi giấc mơ của chúng ta đều bắt rễ trong cái giả

Peter Markee, nó đúng ở mọi nơi. Nó đúng vĩnh viễn. Chân lí là phổ quát: thời gian không tạo ra khác biệt, nơi chốn không tạo ra khác biệt. Và đây là một trong những chân lí nền tảng nhất của trưởng thành tâm linh: cái giả phải bị bỏ đi bởi vì cái giả là rào chắn. Bạn vẫn còn bị lừa bởi cái giả; do đó việc tìm kiếm cái thật chưa bao giờ bắt đầu. Bạn tin cái giả là cái thật.
Thế thì tại sao bạn phải nỗ lực hiểu cái thật? Nếu bạn nghĩ rằng tối là sáng, thế thì cần gì tìm kiếm sáng? Nếu bạn nghĩ cuộc sống này là tất cả, thế thì không có vấn đề tìm và hỏi về kiếp sống khác. Nếu thời gian là toàn bộ thực tại của bạn, thế thì vĩnh hằng chưa bao giờ trở thành cuộc truy tìm cho bạn. Cái giả sẽ nghĩa là bản ngã; cái thật sẽ nghĩa là vô ngã. Cái giả sẽ là của bạn; cái thật sẽ là của Thượng đế. Cái giả sẽ là cá thể; cái thực sẽ là vạn vật. Cái giả sẽ đơn giản nghĩa là bạn tin bản thân bạn tách rời khỏi cái toàn thể; còn cái thật sẽ làm việc tan biến của ảo tưởng tách rời này, trở thành cái bạn thực sự đang là - một phần trong sự hài hoà vũ trụ này, hoàn toàn là một với nó. Thế thì bạn không có đích tách biệt nào, bạn không có mục đích riêng tư nào. Thế thì bất kì chỗ nào cái toàn thể đi, bạn đi. Bạn chỉ là con sóng trong đại dương.
Và trước khi cái thực có thể được biết, cái giả phải dừng lại, bởi vì cái giả đang che mắt bạn. Bạn bám lấy cái giả, bám lấy đồ chơi. Và chừng nào bạn chưa thấy ra vấn đề - rằng đồ chơi chỉ là đồ chơi, không đáng bám vào... Trong chính khoảnh khắc đó của việc thấy, đồ chơi tuột khỏi tay bạn theo cách của nó bởi vì bạn không còn bám lấy nó nữa. Thấy ra cái giả là giả là bắt đầu của chân lí. Nhưng việc thấy đó là gian nan. Trong nhiều kiếp chúng ta đã sống với cái giả và chúng ta đã tin vào cái giả. Chúng ta đã nuôi dưỡng, nuôi nấng cái giả. Tất cả hi vọng của chúng ta, mọi giấc mơ của chúng ta đều bắt rễ trong cái giả. Toàn thể các kiếp sống của chúng ta đều là đầu tư vào cái giả; do đó chúng ta sợ ngay cả việc nhìn, chúng ta sợ ngắm nhìn, quan sát.
Kinh nghiệm đáng sợ nhất cho con người là nhớ, quan sát, nhận biết; do đó mới có khó trong thiền. Nó không nảy sinh từ bên ngoài; không có rối loạn bên ngoài. Rối loạn thực là bên trong bạn. Bạn thực sự không muốn thiền. Bạn đang trong trói buộc kép. Bạn nghe chư phật nói về cái đẹp và ân huệ và phúc lành của thiền, và bạn trở nên tham về nó. Nhưng thế rồi bạn nhìn vào đầu tư riêng của mình và bạn trở nên kinh hãi, cho nên bạn cố thiền. Vậy mà bạn không thực sự muốn thiền bởi vì thiền nghĩa là bạn sẽ phải nhìn mọi thứ như chúng vậy - cái giả là giả, cái thực là thực - và điều đó sẽ làm tan tành toàn thể nỗ lực của bạn của nhiều kiếp trong một khoảnh khắc.
Dũng cảm lớn được cần tới để thiền, dũng cảm để vứt bỏ mọi đầu tư. Thông minh lớn lao được cần. Thực ra, đây là thông minh thực: thấy rằng bằng bất kì cách nào và bất kì nỗ lực nào bạn làm để nhận ra cái giả, để làm ra cái đúng từ nó, chúng sẽ thất bại. Thấy điều đó - rằng toàn thể nỗ lực là bài tập trong vô tích sự hoàn toàn - là thông minh. Nó chẳng có liên quan gì tới trí tuệ; nó rất đơn giản.
Nhìn, quan sát, và không sợ và không né tránh việc nhìn. Và không cứ chơi với bản thân mình, lừa bản thân mình. Đừng vẫn còn trong trói buộc kép, với tay này tạo ra và tay kia phá đi. Đó là điều mọi người đang làm: một nửa con người họ muốn tiếp tục như họ vậy - nửa ngu xuẩn, nửa hợp lí, số học của tâm trí họ. Và nửa kia, nửa thông minh, nửa trực giác - trái tim - muốn bắt đầu cái mới, bởi vì bạn đã thấy quá lâu rằng chẳng cái gì thành công cả. Và dầu vậy bạn cứ đi trên cùng lối mòn. Đây là lúc, đúng lúc, để thoát ra khỏi lối mòn và có việc sinh thành mới.
Điều Gurdjieff nói đã được mọi bậc thầy lớn của thế giới nói rồi. "Thức dậy đi," Phật nói. Cũng cùng điều đó, lời có khác. "Quan sát," Jesus nói. Có tính quan sát cứ dường như người chủ nhà đã đi ra ngoài và người đó đã bảo người hầu vẫn còn còn tỉnh táo bởi vì người chủ có thể về bất kì lúc nào và người chủ không muốn họ ngủ - bất kì khoảnh khắc nào người chủ cũng có thể về. Họ phải tỉnh táo, cảnh giác, mọi lúc. Jesus nói tỉnh táo.
Trong tỉnh táo kinh nghiệm đầu tiên là ở chỗ bạn có cá tính, cái là giả. Gurdjieff gọi nó là ý chí giả. Và bạn có cái gì đó khác, cái gì đó không có tính cá thể trong bạn, cái là ý chí thật. Dáng vẻ của bạn từ bên ngoài là giả; điều bạn kinh nghiệm từ cốt lõi bên trong nhất của bạn là thật. Bạn là sự trộn lẫn của cái ngẫu nhiên và cái tinh tuý, của cái tình cờ và cái bản chất.
Bạn là điểm gặp gỡ của thời gian và vĩnh hằng, ngã tư đường nơi vật chất và tâm thức gặp gỡ, nơi thân thể và linh hồn gặp nhau, nơi cái thực và cái không thực bắt tay nhau. Vâng, bạn đích xác ở ngã tư đường. Và bạn phải rất tỉnh táo không chọn cái giả - bởi vì cái giả rất hấp dẫn. Cái giả làm đủ mọi thứ tuyên truyền về bản thân nó; cái giả sẽ cố gắng thuyết phục bạn với đủ mọi luận cứ.
Chân lí vẫn còn im lặng. Chừng nào bạn chưa sẵn sàng đón nhận nó, nó thậm chí sẽ không gõ cửa nhà bạn. Cái giả sợ rằng nếu nhiều khói không được tạo ra quanh nó thì tính giả của nó sẽ bị bạn thấy. Cho nên cảnh giác với sự hợp lí hoá của cái giả, tuyên truyền của nó, luận cứ của nó, bằng chứng của nó. Và cũng nhớ cái im lặng của chân lí - hoàn toàn im lặng, tuyệt đối im lặng. Chân lí chưa bao giờ thuyết phục bạn; nó sẽ đợi - nó có thể đợi tới vĩnh hằng. Nhưng cái giả không thể đợi được, nó là nhất thời, nó không thể kiên nhẫn thế được. Nó phải thuyết phục bạn, nó phải cám dỗ bạn ngay lập tức có thể được. Cái giả rất thôi miên.
Cách thức của chúng là đối lập toàn bộ. Chân lí được đạt tới qua thức tỉnh, còn cái giả được đạt tới qua ngủ say. Cái giả giống như thuốc ngủ: nó rất an ủi, thoải mái, ấm cúng, an ninh, an toàn. Nó cho bạn mọi loại bảo vệ, bảo hiểm. Nó cứ bảo bạn, "Ở cùng mình đi và mình sẽ bảo vệ cho. Mình là người gác, người hướng dẫn, bạn của mình, triết gia của mình." Chân lí chưa bao giờ tuyên bố điều gì.
Chừng nào bạn chưa hoàn toàn chán ngán với cái giả và những tuyên bố của nó - tất cả đều là hư huyễn... Nó nói nhiều, nhưng nó chưa bao giờ chuyển giao hàng hoá nào. Chừng nào bạn chưa trở nên thất vọng toàn bộ, chán chường, ngán ngẩm với nó, bạn sẽ không nhìn vào chân lí im lặng đâu; bạn sẽ không nghe tiếng nói nhỏ bé, tĩnh lặng bên trong. Và tiếng nói đó là tiếng nói của Thượng đế. Nó là phổ quát; nó chẳng liên quan gì tới bạn cả.
Chân lí sẽ không phải là của bạn. Nó là cái toàn thể nói qua bạn, vận hành qua bạn. Cái giả cho bạn ý niệm về bản ngã lớn - "Mình là ai đó" - còn cái thật lấy đi mọi bản ngã. Nó làm bạn thành cái không, không ai cả. Chỉ qua tính không ai cả của bạn mà cái toàn thể mới có thể vận hành không bị cản trở.
Vâng, Peter Markee này, Gurdjieff là đúng. Và bất kì cái gì là đúng với Gurdjieff cũng là đúng ở đây nữa - là đúng vĩnh viễn. Bất kì chỗ nào thầy tồn tại, cái giả đều phải qui hàng. Điều đó thực ra là vận hành của tính chất sannyas. Nó là phương cách để khuất phục cái giả. Tính chất sannyas nghĩa là bạn buông xuôi bản ngã của bạn. Bạn nói với thầy, "Xin thầy lấy gánh nặng khỏi đầu tôi."
Bạn cúi đầu, bạn chạm chân thầy. Điều đó đơn giản là biểu tượng rằng "Bây giờ tôi sẽ không vận hành như một thực thể tách biệt với thầy."
Và thầy là người đã buông xuôi ý chí của mình, người tồn tại không như một cá thể, người chỉ là sự hiện diện, cửa sổ mở vào Thượng đế. Và khi bạn buông xuôi với cửa sổ này bạn đang buông xuôi với bầu trời bên ngoài. Cửa sổ này sẽ chỉ làm cho bầu trời thành sẵn có. Phương Tây chưa phát triển kĩ thuật về mối quan hệ thầy-đệ tử. Vài cá nhân hiếm hoi đã thử, nhưng họ đã thất bại. Socrates đã thử ở Athens nhưng ông ấy đã thất bại; ông ấy đã không được nghe theo. Jesus đã thử lần nữa; ông ấy thất bại. Phương Tây vẫn còn bận tâm, hội tụ tập trung vào cái giả. Nó tin vào bản ngã.
Phương Đông tin vào vô ngã. Tâm lí học phương Tây nói, làm bản ngã mạnh hơn. Nó là tâm lí học của cái giả - được bắt rễ trong cái giả, hỗ trợ cho cái giả. Phương Đông nói: Để bản ngã tan ra, biến mất, bay hơi. Nó là tâm lí của vô ngã, là quan điểm khác toàn bộ.
Gurdjieff lại đã cố gắng đem phương Đông tới cho phương Tây. Ông ấy cũng thất bại. Điều đó rất khó; nhiều thế kỉ đều chống lại điều đó, và thôi miên và ước định của xã hội đều chống lại điều đó. Ngay cả đại đệ tử của riêng ông ấy, P.D. Ouspensky, cũng đã không thể hiểu được ông ấy, đã hiểu lầm ông ấy. Ông này đã phản bội ông ấy, cũng như Judas đã phản bội Jesus. Và bạn biết không? - Judas là người văn hoá nhất, có giáo dục nhất trong số các đệ tử của Jesus; do đó ông ấy phải có bản ngã lịch sự nhất. Ông ấy là một trí thức. Những tín đồ khác đều là người đơn giản: ngư phủ, thợ mộc, người thu thuế, kẻ đánh bạc, kẻ say, điếm - những người đơn giản. Người duy nhất không đơn giản là Judas; ông ấy phức tạp. Ông ấy có thể đã là giáo sư ở Oxford hay Cambridge hay Harvard và ông ấy đã là một giáo sư cực kì hoàn hảo - ông ấy là người biện luận dẻo mồm. Có vài khoảnh khắc ông ấy thậm chí còn cãi với Jesus. Và nếu bạn nghe luận cứ bạn sẽ đồng ý với Judas, bạn sẽ không đồng ý với Jesus.
Một hôm Jesus đang ở nhà của Mary và Martha và Mary đem nước hoa rất đắt tới và rửa chân Jesus bằng nước hoa đắt đó. Judas lập tức nêu ra câu hỏi; ông ấy nói, "Điều này là ngu xuẩn - phí nhiều tiền thế một cách không cần thiết!" Và ông ấy đưa ra một luận cứ hay - một luận cứ xã hội. Ông ấy nói, "Ngần ấy tiền có thể đã được đem cho người nghèo. Có nhiều người ăn xin ở ngoài nhà. Tiền này có thể đã nuôi sống nhiều người ăn xin trong nhiều ngày. Nó là nước hoa hiếm! Sao phí hoài nó? Chân có thể được rửa bằng nước - không cần!" Và cô ấy đã rót cả chai nước hoa to ra! Bây giờ, bạn sẽ đồng ý với ai nào? Và bạn có biết Jesus nói gì không? Jesus nói, "Người ăn xin bao giờ cũng có đó. Ta không phải bao giờ cũng ở đây."
Điều này dường như không phải là luận cứ hấp dẫn lắm! Jesus nói, "Đừng quấy rầy cô ấy. Đừng quấy rầy tình yêu của cô ấy, tin tưởng của cô ấy, tin cậy của cô ấy. Điều đó hoàn toàn đúng. Nó tới từ tình yêu sâu sắc của cô ấy với ta. Cứ để cô ấy làm điều đó. Và người ăn xin bao giờ cũng sẽ có đó. Cho dù tiền này có được đem cho họ, chẳng cái gì mấy sẽ xảy ra. Có thể trong vài ngày họ sẽ có khả năng ăn; thế rồi lại..."
Bạn sẽ đồng ý với người nào? Chín mươi chín phần trăm là khả năng bạn sẽ đồng ý với Judas - và sau đó nhiều người thế đi theo Karl Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao; sau đó nhiều tuyên truyền cộng sản xã hội chủ nghĩa thế trên khắp thế giới, ai sẽ không đồng ý với Judas? Ông ấy dường như là người tiên phong của triết lí chủ nghĩa xã hội. Và câu trả lời của Jesus dường như không có vẻ hấp dẫn, thuyết phục gì. Dường như đó là việc lảng tránh câu hỏi này, lảng tránh vấn đề này.
Nhưng Judas đã phản bội Jesus chỉ vì lí do đơn giản là ông ấy quá nhiều về trí tuệ, quá bản ngã, quá tự kiêu. Cùng điều đó lại đã xảy ra với Gurdjieff và Ouspensky. Ouspensky là đệ tử giỏi nói nhất của Gurdjieff. Thực ra, chính bởi vì Ouspensky mà Gurdjieff đã trở nên nổi tiếng trên thế giới. Chính cuốn sách của Ouspensky đã làm cho cái tên của Gurdjieff được biết tới cho số đông người trên thế giới. Nhưng sao ông ấy đã phản bội thầy? Vào những năm cuối đời mình, ông ấy đã rất chống đối thầy mình. Ngay cả nhắc tới cái tên của Gurdjieff trong sự hiện diện của Ouspensky cũng là xúc phạm ông ấy; ông ấy không dung thứ ngay cả việc nhắc tới tên của Gurdjieff. Cái tên đó đã hoàn toàn bị vứt bỏ - ngay cả trong sách của ông ấy mà đã được viết trước khi ông ấy tách mình ra khỏi Gurdjieff. Ông ấy đã đổi cái tên từ Gurdjieff sang chỉ G; ông ấy không viết cả tên. Ông ấy đơn giản nhắc, "G nói..." - cũng giống như XYZ. Và thế rồi - ông ấy cũng đủ láu lỉnh - bất kì khi nào ai đó hỏi, "Bản thân ông đã nhắc tới G," ông ấy nói, "Đấy là những ngày ông ấy còn đúng. Về sau Gurdjieff đã phát điên. Tôi chống lại Gurdjieff về sau."
Và tại sao ông ấy chống lại thầy mình? Gurdjieff đã cố gắng phá huỷ bản ngã của ông ấy một cách toàn bộ và điều đó ông ấy không thể nào chấp nhận được. Ông ấy ở London, Gurdjieff ở Nga, ở Tiflis, và Gurdjieff gửi thông điệp, "Tới ngay lập tức. Bán mọi thứ ở đó đi. Đừng phí một khoảnh khắc thời gian. Đem tất cả tiền bạc và lại đây."
Đó là những này của chiến tranh thế giới thứ nhất; rất khó đi lại, đi lại nguy hiểm, và quay về Nga là nguy hiểm cho Ouspensky bởi vì người bôn sê vích, người cộng sản, đã lên nắm quyền và nước Nga, toàn thể nước Nga đang trong rối loạn. Không có trật tự, không có chính phủ.
Dầu vậy, thầy đã yêu cầu, thế là ông ấy bán mọi của cải, nhà cửa, đem toàn bộ số tiền và đi ngược về Nga vẫn biết hoàn toàn rõ là ông ấy đang đi vào nguy hiểm. Cuộc hành trình thật lâu; mất ba tháng ông ấy mới tới, lúc thì đi bằng tầu hoả và lúc thì đi bằng ngựa và lúc thì ông ấy bị ngăn cản và cảnh sát theo dõi ông ấy. Nhưng bằng cách nào đó ông ấy đã tới đó - thầy đã yêu cầu ông ấy tới, và ông ấy đã tới. Ông ấy hi vọng rằng khi ông ấy đã hi sinh lớn lao, vậy ông ấy sẽ được thầy khen ngợi. Và bạn có biết Gurdjieff đã làm gì không? Khoảnh khắc Ouspensky tới ông ấy nói, "Để tiền lại và quay về! Để tiền của ông lại đây và quay về London ngay lập tức!"
Điều này là quá thể. Ông ấy trở nên đối kháng. Ông ấy cứ tưởng Gurdjieff đã trở nên điên khùng. Gurdjieff không điên khùng. Giá mà Ouspensky tuân theo điều đó nữa, mặc dầu điều đó rất phi lí... Nhưng Ouspensky là nhà toán học, nhà logic, một trí thức lớn của thế kỉ này, một trong những nhà toán học sâu sắc nhất mà chúng ta đã từng tạo ra. Ông ấy không thể tin được tất cả điều vô nghĩa này. Ông ấy đi về, nhưng ông ấy quay sang chống đối, trở nên rất chua cay - nói rằng Gurdjieff đã phát điên.
Đó là việc hợp lí hoá của ông ấy để né tránh nhìn chân lí, rằng Gurdjieff đã cố gắng phá huỷ bản ngã của ông ấy một cách toàn bộ. Đó là cú đánh cuối cùng vào đầu ông ấy. Nếu như ông ấy tuân theo điều đó ông ấy đã trở nên được chứng ngộ. Ông ấy đã bỏ lỡ vấn đề - và từ bậc cuối cùng của chiếc thang ông ấy đã bỏ lỡ và ngã xuống. Đôi khi điều đó xảy ra: bạn có thể bỏ lỡ ở khoảng khắc cuối cùng.
Thế rồi trong cả đời mình Ouspensky toàn nói chống lại Gurdjieff; tên Gurdjieff trở nên không được nhắc tới. Bất kì cái gì ông ấy dạy ông ấy đều đã học từ Gurdjieff, nhưng ông ấy rất giữ bí mật. Ông ấy không cho phép các đệ tử của mình đọc sách của Gurdjieff. Ông ấy không cho phép các đệ tử của mình đi và gặp Gurdjieff. Đệ tử của Ouspensky có thể gặp Gurdjieff chỉ sau cái chết của Ouspensky; và thế rồi họ ngạc nhiên họ đã bỏ lỡ biết bao nhiêu. Ouspensky chỉ là một giáo sư, không gì khác. Gurdjieff là người đã chứng ngộ. Nhưng vấn đề bao giờ cũng là cách vứt bỏ bản ngã. Gurdjieff làm khó chịu nhiều người ở phương Tây bởi lẽ đơn giản là ở phương Tây không có truyền thống, không có bối cảnh, không có hoàn cảnh cho tâm lí của vô ngã.
Đó là lí do tại sao tôi đã chọn ở đây, ở phương Đông. Ngay cả mọi người tới từ phương Tây họ cũng phải tới tôi, bởi vì chỉ ở không gian phương Đông mới có khả năng để buông xuôi bản ngã. Toàn thể chỗ này đều có ích; không cần nhiều nỗ lực. Và một khi công xã mới được thiết lập việc vứt bỏ bản ngã sẽ trở thành hiện tượng rất dễ dàng, trò chơi trẻ con. Khi bạn thấy mười nghìn sannyasins đi mà không có bản ngã, không đầu, bạn sẽ trông ngu xuẩn với cái đầu. Bạn sẽ vội vàng ngay lập tức để cho đầu bạn có thể bị chặt đi và bạn cũng có thể chạy không đầu và làm mọi thứ, điều không thể được trước đây - bởi vì có đầu.
Gurdjieff là đúng: cái giả phải bị vứt bỏ. Cái giả phải dừng để cái thực hiện hữu.

Wednesday, June 14, 2017

Author THIENOSHO posted on 8:44 AM in
Osho nói về cuốn "Tư bản luận" và "Tuyên ngôn Cộng sản"

 

… Lại một người Do Thái nữa, Karl Marx, và cuốn sách ông ta đang cầm trong tay là cuốn TƯ BẢN LUẬN. Đây là cuốn sách tệ hại nhất đã từng được viết. Nhưng dù sao đó cũng là một cuốn sách lớn, bởi vì nó thống trị hàng triệu người. Gần một nửa thế giới là cộng sản, và bạn không thể chắc chắn về nửa kia. Ngay cả những người không phải là cộng sản, trong thâm tâm, họ cảm thấy có một cái gì đó tốt của chủ nghĩa cộng sản. Không có gì tốt trong nó cả. Đó là sự bóc lột của một giấc mơ lớn. Karl Marx chỉ là người mơ – không phải là nhà kinh tế, không bao giờ – chỉ là người mơ; nhà thơ, nhưng là nhà thơ hạng ba. Ông ta cũng không phải là nhà văn lớn. Không có ai đọc TƯ BẢN LUẬN. Tôi đã tình cờ gặp nhiều người cộng sản tầm cỡ, và tôi đã hỏi họ, nhìn sâu vào mắt họ, “Ông đã đọc TƯ BẢN LUẬN chưa?” Không một người nào đã nói có.
Họ nói, “Chỉ một số ít trang… Chúng tôi có quá nhiều việc phải làm, chúng tôi không thể đọc cuốn sách dày như vậy.” Hàng nghìn trang và tất cả chỉ là rác rưởi, được viết một cách phi logic hoặc phi lý, giống như ai đó đã hóa điên. Karl Marx liên tục viết những gì xuất hiện trong đầu ông ta. Ngồi trong thư viện nước Anh, giữa hàng nghìn cuốn sách, ông ta liên tục viết và viết. Bạn biết đấy, gần như hàng ngày ông phải bị lôi ra khỏi thư viện lúc đóng cửa, điều đó đã trở thành thói quen. Ông ta bị ép phải rời đó; nếu không ông ta sẽ không nhúc nhích. Tình cờ ông được mang ra khỏi đó mà vẫn vô thức.
Bây giờ người đàn ông này đã trở thành một vị thánh! Đó là một cái gì giống như bộ ba vô cùng xấu xa: Karl Marx, Friedrich Engels, và tất nhiên là Lenin – đó là bộ ba đã trở thành gần như những vị thánh của hàng triệu người trên trái đất. Đó là một thảm họa, nhưng tôi vẫn nói đến cuốn sách – không phải là bạn nên đọc nó, mà bạn đừng đọc nó. Hãy gạch dưới những gì tôi đã nói: đừng đọc nó. Bạn đã rất rối bời rồi. Thế là đủ rồi. Không cần TƯ BẢN LUẬN nữa.
Người Do Thái luôn mơ về việc thống trị thế giới. Họ đang thực sự thống trị. Có thể nói ba người quan trọng nhất thống trị thời đại này là Karl Marx, Sigmund Freud và Albert Einstein. Ba người đó đều là Do Thái. Người Do Thái đã đạt được giấc mơ của họ, họ đang thống trị. Nhưng về những vấn đề kinh tế thì Marx lại sai lầm; Freud cũng sai bởi vì tâm trí không thể được phân tích, mà phải đặt sang một bên để bạn có thể vào thế giới phi-tâm trí.
Tôi chống lại Karl Marx và Friedrich Engels nhưng tôi phải đánh giá cao cuốn sách của hai vị đó, TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN – và nên nhớ, tôi không phải là người cộng sản! Bạn không thể tìm ra người nào chống cộng sản nhiều hơn tôi, nhưng tôi vẫn yêu cuốn sách mỏng đó. TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN. Tôi thích cách nó được viết – không phải nội dung mà là văn phong.
Bạn biết cái thích của tôi là đa dạng và tôi sẽ đánh giá cao văn phong. Chắc hẳn Phật sẽ nhắm mắt và bịt tai, Mahavira hẳn sẽ chạy thật xa: văn phong ư…? Nhưng tôi có tiêu chuẩn của riêng mình. Đúng, tôi thích văn phong cuốn TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN, và tôi ghét nội dung. Bạn có hiểu tôi không? Người ta có thể thích trang phục và ghét con người. Đó chính xác là trường hợp của tôi. Câu cuối cùng trong TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN là: giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại. Các bạn không có gì mất ngoài những xiềng xích, và các bạn có cả thế giới để chiến thắng.
Bạn có nhìn thấy văn phong? Sức mạnh của câu nói là ở chỗ: Liên hiệp lại! Các bạn không mất gì ngoài những xiềng xích, và một thế giới để chiến thắng. Đó là điều mà tôi nói với các sannyasin của tôi, mặc dù tôi không nói liên hiệp lại, tôi nói: chỉ tồn tại – và bạn không có gì mất ngoài những xiềng xích của bạn.
Và tôi không nói rằng bạn phải chiến thắng thế gian – ai quan tâm, ai bận tâm! Liệu bạn có thể thuyết phục tôi trở thành Alexander Đại đế hoặc Napoleon Bonaparte hoặc Adolph Hitler hoặc Joseph Stalin hoặc Mao Trạch Đông? Có một danh sách dài gồm tất cả những kẻ ngốc đó và tôi không muốn có bất kỳ điều gì liên quan tới họ. Tôi không nói với các sannyasin của tôi: hãy giành chiến thắng – không có gì để chiến thắng. Chỉ tồn tại – đó là tuyên ngôn của tôi. Tồn tại, bởi vì trong tồn tại bạn đã giành được tất cả rồi.

Select Category