Trong một phút giây trống rỗng giữa những xô bồ của dòng đời,
tôi đã bước vào đó - vào một không gian không nhà, không cửa, không người,
không cây, không tất cả ngoại trừ một đám khói mờ nhạt bốc lên từ những tháng
ngày dĩ vãng.
Hai tháng, một tháng, hay bao nhiêu ngày từ hôm đó tôi không
còn nhớ rõ, mẹ tôi đem đốt dần những thứ chúng tôi đã cất giữ bao năm qua. Giữa
đám cỏ rậm rạp trên bãi đất trống trước nhà, hơi nóng hừng hực hắt vào khuôn mặt
đã ửng đỏ của mẹ tôi khiến mẹ càng vội vã hơn thảy vào đám lửa vàng rực ấy những
thứ cũ kĩ lôi ra từ cái bao gạo rách. Mẹ đã đốt chúng, đốt hết quần áo, khăn
màn, mùng mền, chiếu gối… Ngọn lửa hung hãn đó đã nuốt chửng tất cả, nuốt luôn mồ
hôi nước mắt hơn nửa đời người của ba mẹ.
Rời nó sao? Rời ngôi nhà mà ba mẹ tôi đã dành cả mấy mươi
năm cuộc đời để dựng lên được nó? Để tìm cái gì? Đung đưa trên cái võng vải dù
đầu phòng khách, tôi đã bị bao vây bởi những câu hỏi ngớ ngẩn như vầy: “Nhà cao
cửa rộng” – đó là cụm từ nảy ra sau những dấu chấm hỏi không ngừng xuất hiện
trong đầu khi tôi ngước nhìn trần nhà thạch cao trắng toát nơi tôi chưa một lần
với tới. “Rời ngôi nhà một lầu có cái cửa rộng hai mét mấy phân để đi sống ở
đâu?” À, ra rồi! Để tới một phương trời trên thế gian này nơi có tia nắng ấm của
sự đoàn tụ và ánh mặt trời của hai tiếng 'tương lai'. Và cuối cùng tôi cũng có
thể đặt dấu chấm cho một trong hàng trăm ý nghĩ của mình.
Hai mươi, mười lăm, chín… Tôi âm thầm đếm ngược từng ngày
còn sót lại trước khi ra đi để tới một nơi mơ hồ trong trí tưởng tượng qua những
hình ảnh bóng lộn trên sách báo. Cảm giác thương nhớ cảnh vật xung quanh tôi bỗng
nhiên tràn ngập không gian. Tôi lần mò bước chân ra bậc thềm trước nhà, đưa mắt
nhìn ngắm thật kĩ mọi thứ - cái tường rào đầy rêu xanh, chiếc vỏ xe mục góc vườn,
những chậu cây lược vàng to nhỏ xếp hàng dài ngay ngắn dưới cửa sổ, đống đá
xanh chất cạnh lỗ “chó chui”, và cả khoảng sân đất phẳng phiu còn cất giữ một dự
án xây hòn non bộ của ba tôi khi nghỉ hưu. Tất cả như trở nên có hồn khi tôi
nhìn chúng với một trái tim luyến tiếc. Tôi ngồi đó, dưới cái nực nội và tiếng
kêu lách tách của mái hiên bằng tôn giữa trưa hè. Áp tay vào bức tường đã phai
sơn, tôi cố sờ soạng những thứ sẽ phải rời xa mãi mãi. Cái mát lạnh của chân tường
như làm dịu đi hơi nóng trong lòng bàn tay tôi trong khi ánh mắt tôi dõi theo từng
nét nhấp nhô của những giọt sơn đã bạc màu nắng. Tôi nhìn, qua vị mặn của nước
mắt, và ráng ghi nhớ từng vết nứt chân chim, những vệt dơ in trên đường xi-măng
trắng giữa những tấm gạch lát sàn, và từng lớp sơn tróc ra sau bao nhiêu ngày
mưa nắng. Có lẽ bao năm qua, chúng đã nhìn tôi như thế, và tôi đã ngoảnh mặt
nhìn dòng đời.
Lo sợ đã trổi dậy trong giây phút thầm lặng ấy. Tôi vội vàng
lục tìm chiếc máy ảnh cũ. Bước đi trên những nỗi sợ sẽ lạc mất chúng ngày mai, tôi
đặt máy ảnh vào mọi góc có thể và chụp lấy chụp để mọi thứ trong vườn. Từ nhành
cỏ, ngấn lá, đám nha đam, cá vàng cá đỏ bơi lội trong hồ, tới con hẻm nhấp nhô xi-măng
trộn sỏi và cái cây sa-kê trĩu quả trước sân đều được tôi ghi lại qua ống kính.
Bắt gặp tôi chụp tới tấp vậy, ba tôi hỏi: “Chụp chi lia lịa dữ vậy?” Tôi định
thốt ra câu “He he! Con chụp cho vui,” mà cổ họng như nghẹn ứ.
Sẽ có không ở nơi ấy, có không bãi cỏ xanh rờn lượn sóng giữa
những cơn gió nhẹ mỗi trưa hè? Có không những buổi chiều vi vu cùng cánh diều
trong gió trên đống đất cuối bãi? Có không cái tiếng cọc cạch của chiếc xe đạp
cũ kĩ đều nhịp theo từng vòng đạp ngắm hoàng hôn? Có không những sáng vừa ngồi
viết văn vừa thọt chân ra cái ô ở thành ban công bứt lá sa-kê? Có không mấy cái
lò nung đất sét xả khói đen nghi ngút năm năm qua? Và có không… cho tôi hỏi. Lòng
tham của tôi muốn mang theo tất cả tới nơi ấy. Tôi gấp chúng lại và bỏ vào
va-li để đem theo được không? Thế rồi tôi bước vào nhà, để lại trên thành ban
công sờn mép một câu “Ước gì tôi có thể”.
Ngồi bên rổ sa-kê hấp còn đang bốc khói, tôi cố ăn thật nhiều
những lát sa-kê chứa đầy tinh bột mà trước đây tôi chỉ thích ăn nó khi chúng
đang nóng hổi với lớp bột vàng giòn bọc ngoài. Những lát sa-kê trắng tinh trở
nên ngọt bùi một cách lạ thường trong ý nghĩ tôi sẽ không được thưởng thức nó nữa.
Thế nên, tôi sẽ ăn bù cho mùa quả tới vậy.
Rồi cũng tới cái ngày đó – ngày tiếng nói chuyện của chúng
tôi vang dội giữa những bức tường trống không nơi không có giường tủ. Thời gian
đã đẩy chúng tôi đi qua những lần lau chùi gấp gáp, những cái khiêng va-li nặng
nề, và những lời từ biệt vội vã. Trong giây phút ấy, tôi đã đi ra thềm nhà mà
không cần khóa cửa, bước xuống khoảng sân gạch tàu mà không tìm kiếm chiếc xe đạp
quen thuộc, và bước ra khỏi cánh cổng sắt sơn xanh mà không quay mặt lại nhìn
ngôi nhà thân yêu lần cuối. Để cho những giọt nước mắt bội bạc lẫn luyến tiếc làm
nhạt nhòa đi ngôi nhà yêu dấu đang dần nhỏ lại và mất hút sau lưng.
…Ơi! Tôi đành để một chỗ trống trước từ ấy. Biết phải đặt
vào đó chữ gì đây khi có biết bao nhiêu thứ ùa về trong kí ức. Sa-kê, nhà, xe đạp,
hồ cá, sàn nước … Tôi phải gọi cái nào bây giờ. Thế nên, tôi cứ lặng lẽ ngắm
nhìn những hình ảnh quen thuộc chen lấn trong suy nghĩ, để lại một tiếng “ơi”
vang vọng giữa muôn ngàn nỗi nhớ.
Nơi đó đã không còn thuộc về tôi nữa, tôi nghĩ thế. Nhưng đối
với tôi, những ngày tháng ấy vẫn sống động như ngày nào. Dưới khoảng trời đó vẫn
còn tiếng rồ xe đi vào mỗi buổi sáng, tiếng leng keng của chiếc dây xích khóa cổng,
hòa cùng tiếng ti-vi bật mỗi tối. Và sống ở nơi ấy là một gia đình nhỏ có cô bé
đạp xe dạo chơi mỗi buổi chiều; nó vẫn đứng đó, tựa vào thành ban công và ngắm
nhìn bãi cỏ xanh rờn phai nhạt màu nắng.
Đến khi nào tôi mới được ngồi tựa vào vách tường cạnh cái
bàn gỗ sờn mép, vắt chân lên hai cái ghế, còn mắt chăm chú dõi theo những hình ảnh
không ngừng chuyển động trên ti-vi? Sẽ có nữa không ngày ấy vang tiếng võng kẽo
kẹt của ba tôi nằm đọc sách trên cái giá võng cột lại ở hai đầu? Với một tia chờ
đợi mong manh, tôi mong chờ ngày ấy sẽ đến – một ngày xa xăm nào đó của kiếp người.
Và tôi vẫn cất giữ những ngày tháng xa vời ấy trong kí ức – nơi nhạt nhòa những
nét chữ mơ hồ viết nên cái tên trên blog này: “Cuộc tình không lời hẹn ước”.
Lucy Nguyen